Ngày 27/3/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT về Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, có hiệu lực thi hành từ ngày 12/5/2026.
Khung năng lực số là cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng; tài liệu học tập, hướng dẫn phát triển năng lực số cho giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục; nâng cao chất lượng giáo dục. Cơ sở để giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục tự đánh giá và xác định nhu cầu bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu về năng lực số. Đồng thời, bảo đảm tính thống nhất về yêu cầu năng lực số của giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.
Cấu trúc khung năng lực số gồm 6 miền năng lực với tổng số 20 năng lực thành phần.
Thứ nhất, miền năng lực về tổ chức dạy học, giáo dục trong môi trường số bao gồm 4 năng lực thành phần. Trong đó, năng lực dạy học và giáo dục trong môi trường số yêu cầu giáo viên thiết kế, tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục, quản lý và đánh giá đa dạng, hiệu quả trong môi trường số nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Năng lực hướng dẫn, hỗ trợ học tập thể hiện ở việc sử dụng các công cụ, nền tảng số để hướng dẫn, hỗ trợ người học trong quá trình học tập và tự học. Năng lực cá nhân hóa người học là việc ứng dụng công nghệ để điều chỉnh nội dung, phương pháp, tốc độ học phù hợp với từng người học. Năng lực học tập cộng tác yêu cầu tổ chức hoạt động nhóm, thúc đẩy giao tiếp, tương tác giữa người học trên nền tảng số.
Thứ hai, miền năng lực về kiểm tra, đánh giá gồm 3 năng lực thành phần. Cụ thể, năng lực phương thức đánh giá là việc ứng dụng công nghệ để thiết kế, triển khai các hình thức kiểm tra, đánh giá linh hoạt, hiệu quả. Năng lực phân tích kết quả học tập yêu cầu sử dụng công cụ số để thu thập, phân tích dữ liệu học tập, theo dõi sự tiến bộ của người học. Năng lực phản hồi và đánh giá cải tiến là sử dụng công nghệ để phản hồi kịp thời, điều chỉnh phương pháp và kế hoạch dạy học.
Thứ ba, miền năng lực về trao quyền cho người học gồm 3 năng lực thành phần. Trong đó, năng lực tiếp cận và hòa nhập thể hiện ở việc thiết kế môi trường học tập số công bằng, phù hợp với mọi đối tượng, kể cả người học đặc biệt. Năng lực giải quyết vấn đề là ứng dụng công nghệ để xử lý tình huống, hỗ trợ người học giải quyết vấn đề trong học tập. Năng lực khuyến khích sự tham gia tích cực là tạo động lực, tăng tương tác, thúc đẩy người học tham gia tích cực trong môi trường số.
Thứ tư, miền năng lực về kĩ năng công nghệ số gồm 3 năng lực thành phần. Cụ thể, năng lực kĩ năng thông tin và dữ liệu là tìm kiếm, đánh giá, quản lý và sử dụng thông tin, dữ liệu hiệu quả, có đạo đức. Năng lực sáng tạo nội dung số là tạo mới, chỉnh sửa và tích hợp học liệu số phục vụ dạy học. Năng lực an toàn là bảo mật thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng tránh rủi ro trên môi trường số.
Thứ năm, miền năng lực về phát triển chuyên môn gồm 3 năng lực thành phần. Trong đó, năng lực giao tiếp trong tổ chức yêu cầu sử dụng công cụ số để giao tiếp, trao đổi với đồng nghiệp, phụ huynh. Năng lực hợp tác phát triển chuyên môn là tham gia cộng đồng chuyên môn, học tập, chia sẻ kinh nghiệm qua nền tảng số. Năng lực phát triển, sử dụng, chia sẻ học liệu số là xây dựng, lưu trữ, quản lý và chia sẻ học liệu số hiệu quả, an toàn.
Thứ sáu, miền năng lực về trí tuệ nhân tạo (AI) gồm 4 năng lực thành phần. Cụ thể, năng lực tư duy lấy con người làm trung tâm là ứng dụng AI nhưng vẫn đảm bảo vai trò trung tâm của con người. Năng lực đạo đức AI yêu cầu tuân thủ nguyên tắc minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền riêng tư khi sử dụng AI. Năng lực sư phạm AI là tích hợp AI vào phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và hỗ trợ học tập. Năng lực AI cho phát triển chuyên môn là ứng dụng AI để tự động hóa công việc, cập nhật kiến thức và nâng cao năng lực.
Mỗi năng lực trong khung được chia thành 3 mức độ, mức độ cơ bản là sử dụng được công cụ số ở mức nền tảng; mức độ thành thạo là thiết kế, triển khai hiệu quả hoạt động dạy học tích hợp công nghệ; và mức độ nâng cao là sáng tạo, đổi mới và dẫn dắt ứng dụng công nghệ trong giáo dục.
Khung năng lực số được xây dựng không chỉ là một bộ tiêu chuẩn kĩ thuật về kĩ năng sử dụng công nghệ, mà là công cụ định hướng toàn diện nhằm chuyển đổi cách dạy học, quản lí và phát triển chuyên môn trong bối cảnh giáo dục số, bảo đảm giáo viên và cán bộ quản lí thích ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục và chuyển đổi số quốc gia.

Tập huấn AI trong tác giảng dạy cho giáo viên
Việc ban hành Khung năng lực số là tạo cơ sở quan trọng để các địa phương cụ thể hóa và triển khai phù hợp với thực tiễn. Tại Đồng Nai, chuyển đổi số trong giáo dục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Thời gian qua, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai đã chủ động triển khai nhiều hoạt động thiết thực. Trong đó, nổi bật là việc tổ chức các hội nghị phổ cập kiến thức, kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo theo tinh thần “Bình dân học vụ số" cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên; tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng sử dụng công nghệ số trong dạy học và quản lý giáo dục.
Đội ngũ giáo viên trên địa bàn tỉnh từng bước nâng cao năng lực số, sử dụng tương đối thành thạo các nền tảng dạy học trực tuyến, thiết kế bài giảng điện tử, xây dựng và khai thác học liệu số. Nhiều giáo viên đã bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong soạn bài, thiết kế nội dung giảng dạy, xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá, góp phần hỗ trợ cá nhân hóa hoạt động học tập của học sinh.
Đến nay, hầu hết các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong cả công tác quản lý và tổ chức dạy học. Học sinh được tiếp cận với kho học liệu số, lớp học ảo và các nền tảng học tập trực tuyến; dữ liệu học tập từng bước được số hóa, tạo điều kiện để phụ huynh theo dõi, phối hợp trong quá trình giáo dục.
Mô hình “trường học thông minh" đang từng bước được hình thành và phát triển, góp phần đổi mới phương thức dạy học theo hướng linh hoạt, hiện đại. Đây là nền tảng quan trọng để Đồng Nai tiếp tục triển khai hiệu quả Khung năng lực số, hướng tới xây dựng hệ sinh thái giáo dục số đồng bộ, nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn tới./.